Skip Navigation Links
Trang chủ  
  Tin tức - Sự kiện 
  Chi tiết tin tức 
Tin tức - Sự kiện
21/06/2015 04:38:12

Nhiều bất cập trong đầu tư, hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách bảo vệ và phát triển rừng và các chính sách đặc thù hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số vùng miền núi như: Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010; Chương trình 135, Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ (Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP), Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 (KH 57) và các chính sách đặc thù khác như giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng buôn làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên. Các chính sách này đã góp phần hỗ trợ các hộ gia đình, đặc biệt là đồng bào dân tộc miền núi vùng khó khăn tăng thu nhập, thoát nghèo, từng bước ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất lâm nghiệp, góp phần vào phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng trong vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng lâm nghiệp ngày càng được cải thiện và đưa vào ứng dụng trong sản xuất góp phần nâng cao năng suất rừng trồng.Thị trường lâm sản trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ liên tục tăng trưởng, nhu cầu gỗ nguyên liệu chế biến trong nước ngày càng cao,… là những yếu tố khuyến khích phát triển sản xuất lĩnh vực lâm nghiệp.

  Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay hầu hết hộ gia đình và cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng dân tộc và miền núi gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao vẫn sống dựa vào rừng, một số nơi rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá để lấy đất sản xuất nông nghiệp. Cơ chế, chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng và xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc còn hạn chế, nguồn lực phân tán và chưa đủ mạnh để tạo nguồn thu nhập ổn định giúp người dân yên tâm bảo vệ và phát triển rừng và sống được bằng nghề rừng. Một số điểm hạn chế, bất cập chủ yếu của các chính sách hiện hành trong bảo vệ và phát triển rừng như:

  Trong khoán bảo vệ rừng: Kinh phí hỗ trợ cho hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng hiện nay ở mức 200.000 đồng/ha/năm và mức 300.000 đồng/ha/năm áp dụng riêng cho 63 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP (Quyết định số 2621/QĐ-TTg ngày TTg ngày 31/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số mức hỗ trợ phát triển sản xuất quy định tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ). Mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình là rất thấp, nếu bình quân mỗi hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng 10 ha, số tiền được hỗ trợ là 2.000.000 đồng/hộ/năm (tương ứng với khoảng 120 kg gạo), chưa đủ đáp ứng nhu cầu lương thực của một người trong gia đình, đặc biệt ở các vùng dân tộc, miền núi, điều kiện cho sản xuất, phát triển kinh tế gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra, Ngân sách Nhà nước hàng năm thường không đáp ứng đủ so với nhu cầu bảo vệ rừng phòng hộ, đặc dung toàn quốc nên thực tế ở nhiều địa phương mức khoán bảo vệ rừng phải dàn trải, có nơi rút xuống chỉ từ 50.000đ-100.000đ/ha/năm, thậm chí có  nơi không có.

  Để khuyến khích hộ gia đình tham gia nhận giao rừng, khoán bảo vệ rừng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đây là quy định về chi trả của bên sử dụng dịch vụ môi trường (nhà máy thủy điện, nước sạch, du lịch sinh thái) với bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng (hộ gia đình, tổ chức), nguồn kinh phí này không thuộc ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, kinh phí được chi trả cho các hộ gia đình rất khác nhau giữa các vùng, phụ thuộc vào diện tích rừng mà hộ gia đình nhận khoán bảo vệ, phụ thuộc vào số lượng bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng. Cụ thể, tại tỉnh Điện Biên mức chi trả cao nhất là 256.000 đồng/ha/năm và mức thấp nhất là 826 đồng/ha/năm, mức chênh lệch tới 300 lần.